người không được quyền hưởng di sản

Người sở hữu Bất động sản được phép sử dụng, mua bán, cho thuê, làm quà tặng, dùng để ký quỹ, để di chúc lại cho người được thừa hưởng, hoặc để yên Bất động sản của bản thân. Thị trường bất động sản Việt Nam Nền kinh tế Việt Nam bắt đầu đổi mới từ năm 1986 thì thị trường bất động sản [2] (TTBĐS) cũng manh nha. Những người hưởng thừa kế có trách nhiệm thực hiện nghĩa vụ tài sản trong phạm vi di sản do người chết để lại, trừ trường hợp có thoả thuận khác. 2. Trường hợp di sản chưa được chia thì nghĩa vụ tài sản do người chết để lại được người quản lý di sản thực hiện theo thoả thuận của những người thừa kế trong phạm vi di sản do người chết để lại. 3. Di sản để lại cho người thừa kế không còn vào thời điểm mở thừa kế…. Như vậy, một người được chỉ định thừa kế theo di chúc mất tích không phải điều kiện để di chúc không có hiệu lực. Do đó, trong nội dung di chúc, cha mẹ hoàn toàn vẫn có thể để lại tài Vay Tien Nhanh Home Credit. Những trường hợp không được hưởng di sản thừa kếTrường hợp nào không được quyền hưởng di sản thừa kế theo quy định?Thừa kế là việc thực thi chuyển giao tài sản, lợi ích, nợ nần, các quyền, nghĩa vụ từ một người đã chết sang một cá nhân nào đó. Vậy những trường hợp nào không được quyền hưởng di sản thừa kế theo quy định Luật dân sự, chúng ta cùng đi tìm năng cao giá trị truyền thống, đạo đức xã hội , khoản 1 Điều 643 Bộ luật dân sự đã quy định những trường hợp nếu người thừa kế phạm phải sẽ không được quyền hưởng thừa Người bị kết án về hành vi cố ý xâm phạm tính mạng, sức khỏe hoặc về hành vi ngược đãi nghiêm trọng, hành hạ người để lại di sản, xâm phạm nghiêm trọng danh dự, nhân phẩm của người đó điểm a khoản 1 điều 643Điều kiện chính được đặt ra trong trường hợp này đó là phải có một bản án có hiệu lực của pháp luật. Vì vậy, người không bị truy cứu trách nhiệm hình sự hoặc không bị kết án thì sẽ không bị ràng buộc bởi điều này. Mặt khác, nếu một người đã bị kết án, sau đó được xóa án tích thì vẫn không được quyền hưởng di sản theo quy định tại điều này.* Hành vi cố ý xâm phạm tính mạng, sức khỏe của người để lại di sảnKhi có hành vi xâm phạm tính mạng và có bản án về hành vi đó của người có thể được nhận di sản thì ta không cần xem xét mục đích của việc xâm phạm đó có nhằm là hưởng di sản hay không mà vẫn tước quyền hưởng di sản. Tuy nhiên việc người đó bị kết án về việc xâm phạm tính mạng của một người không phải người để lại di sản thì không được tước quyền hưởng di sản.* Hành vi ngược đãi nghiêm trọng, hành hạ người để lại di sản, xâm phạm nghiêm trọng danh dự, nhân phẩm của người để lại di sảnSự ngược đãi, hành hạ, xâm phạm danh dự, nhân phẩm của người để lại di sản là những hành vi trái pháp luật, được thể hiện thông qua các hành động như mắng chửi, đánh đập, …Việc xác định hành vi ngược đãi, hành hạ, xâm phạm danh dự nhân phẩm như thế nào thì bị coi là nghiêm trọng thì hiện vẫn chưa được quy định. Dù vậy, ta không cần đi xác định tính nghiêm trọng mà chỉ cần dựa vào chính việc đã có bản án về hành vi đó làm căn Người vi phạm nghiêm trọng nghĩa vụ nuôi dưỡng người để lại di sản Điểm b khoản 1 điều 643.Có những trường hợp sau– Người có nghĩa vụ nuôi dưỡng và người để lại thừa kế có quan hệ con và cha mẹ, người để lại thừa kế là cha mẹ của họPháp luật có quy định về bổn phận của con là phải chăm sóc nuôi dưỡng cha mẹ trong mọi trường hợp bất luận tình trạng kinh tế, sức khỏe của cha mẹ như thế nào. Trên cơ sở nghĩa vụ nuôi dưỡng của con đối với cha mẹ thì có nghĩa vụ cấp dưỡng của con đối với cha mẹ. Khi con vi phạm nghĩa vụ nuôi dưỡng cha mẹ theo quy định của pháp luật thì không được hưởng di sản do cha mẹ để lại.– Người có nghĩa vụ nuôi dưỡng và người để lại thừa kế có quan hệ cha mẹ và con, người để lại thừa kế là con của họCha mẹ có nghĩa vụ chăm sóc, nuôi dưỡng con cái khi con chưa thành niên hoặc con đã thành niên nhưng bị tàn tật mất năng lực hành vi dân sự, không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi sống mình. Nếu cha mẹ vi phạm nghĩa vụ nuôi dưỡng trên của mình đối với con cái thì sẽ không được hưởng di sản của con để lại.– Người có nghĩa vụ nuôi dưỡng và người để lại thừa kế có quan hệ anh, chị, em - người để lại thừa kế là anh,chị,em của họ- Người có nghĩa vụ nuôi dưỡng và người để lại thừa kế có quan hệ ông bà và cháu-người để lại thừa kế là cháu của bị kết án về hành vi cố ý xâm phạm tính mạng người thừa kế khác nhằm hưởng một phần hoặc toàn bộ phần di sản mà người thừa kế đó có quyền hưởng điểm c khoản 1 điều 643.Người thừa kế do mưu đồ muốn chiếm đoạt một phần hoặc toàn bộ di sản thừa kế mà người thừa kế khác có quyền được hưởng nên đã có hành vi cố ý xâm phạm tính mạng người thừa kế khác giết người thừa kế khác. Người thừa kế khác ở đây có thể hiểu theo hai hướng– Thứ nhất, người thừa kế cùng hàng– Thứ hai, người thừa kế không cùng hàng. Trong trường hợp này buộc phải là người thừa kế hàng phía trên. Vì không có lý do gì giết người ở hàng thừa kế phía sau với mục đích chiếm đoạt một phần hoặc toàn bộ di sản thừa kế mà người thừa kế đó được hưởng nhiên cần phải phân biệt ba trường hợp xâm phạm đến tính mạng của người thừa kế khác như sau– Cố ý xâm phạm tính mạng của người thừa kế khác Giết người thừa kế khác với mục đích chiếm đoạt một phần hoặc toàn bộ di sản mà người thừa kế đó được hưởng. Trong trường hợp này, người thừa kế thực hiện hành vi đó sẽ không được quyền hưởng di sản thừa kế– Cố ý xâm phạm tính mạng của người thừa kế khác Giết người thừa kế khác nhưng không phải với mục đích chiếm đoạt một phần hoặc toàn bộ di sản mà người thừa kế đó được hưởng. Trong trường hợp này, người thừa kế thực hiện hành vi giết người thừa kế khác không bị tước quyền hưởng di sản.– Vô ý làm chết người thừa kế khác Dĩ nhiên trong trường hợp này là lỗi vô ý, hoàn toàn không thuộc trường hợp bị tước quyền thừa kế, nên người thực hiện hành vi này vẫn có quyền hưởng di sảnĐiều đáng lưu ý ở đây, cũng giống như ở trường hợp không được quyền hưởng di sản đầu tiên, phải có một bản án có hiệu lực của pháp luật thì người thực hiện hành vi giết người thừa kế khác đó mới bị tước quyền thừa ra, việc áp dụng quy tắc này cũng còn tùy thuộc vào việc có minh chứng được hay không động cơ phạm tội của người thừa kế hành vi đó có nhằm mục đích để chiếm đoạt một phần hoặc toàn bộ di sản mà người thừa kế có tính mạng bị xâm phạm được hưởng nếu còn sống hay không?Có hai điều cần phải chú ý– Thứ nhất, hành vi phạm pháp phải xảy ra trước thời điểm mở thừa kế. Bởi lẽ, nếu sau thời điểm mở thừa kế, mỗi người thừa kế đã trở thành chủ sở hữu thực sự phần thừa kế của mình. Nếu người thừa kế đó chết thì phần được thừa kế được để lại cho những người thừa kế của họ chứ không phải là kẻ giết người.– Thứ hai, động cơ phạm tội phải được ghi nhận trong bản án. Do đó, bản án không thể được tuyên trước khi mở thừa kế. Vì sẽ rất bất hợp lý nếu gán cho một người có ý định chiếm đoạt phần tài sản không tồn tại ở thời điểm phạm tội và cũng không tồn tại ở thời điểm xét xử. Bản án chỉ có thể được tuyên sau khi mở thừa kế. Trong trường hợp án đã xử xong trước thời điểm mở thừa kế thì có thể được xét xử lại theo thủ tục tái giống như trong trường hợp nêu tại điểm a khoản 1 điều 643 thì dù người thừa kế phạm tội quy định tại điều khoản này được xóa án tích thì vẫn không được hưởng di Người có hành vi lừa dối, cưỡng ép hoặc ngăn cản người để lại di sản trong việc lập di chúc; giả mạo di chúc, sửa chữa di chúc, hủy di chúc nhằm hưởng một phần hoặc toàn bộ di sản trái với ý chí của người để lại di sản điểm c khoản 1 điều 643.Quyền lập di chúc để định đoạt tài sản của cá nhân chính là quyền định đoạt tài sản của chủ sở hữu khi còn sống. Hành vi cản trở đối với người lập di chúc là hành vi trái pháp luật, do vậy, người có hành vi cản trở sẽ bị tước quyền hưởng di sản do người có di sản để luật nhắc tới các hành vi lừa dối, cưỡng ép, ngăn cản việc lập di chúc, giả mạo, sửa chữa, hủy di chúc, tuy nhiên còn một số hành vi không được nhà làm luật nêu ra như làm di chúc giả, giấu giếm di chúc,..có thể được xử lý theo nguyên tắc áp dụng pháp luật tương thể thấy, khác với ba trường hợp không được quyền hưởng di sản đã kể trên, trường hợp này được dự kiến trong điều kiện mối quan hệ được bảo vệ là quyền thừa kế theo ý nghĩa vật chất chứ không phải theo ý nghĩa đạo đức. Trên thực tế, nếu người lập thừa kế bị cưỡng ép hoặc ngăn cản trong việc lập di chúc thì người đó vẫn có thể sử dụng quyền truất quyền hưởng di sản của người thừa kế; còn nếu hành vi cưỡng ép, ngăn cản có dấu hiệu bạo lực nghiêm trọng thì có thể áp dụng các quy tắc trong trường hợp đầu tiên đã nêu. Điều đáng lưu ý là, trong trường hợp người thừa kế có hành vi lừa dối người lập di chúc hoặc giả mạo di chúc,…; mà không nhằm mục đích hưởng một phần hoặc toàn bộ di sản trái với ý chí của người lập di chúc thì chỉ áp dụng các biện pháp chế tài thông thường của luật dân sự như bồi thường thiệt hại chứ không áp dụng theo khoản 1 điều 643. Quyền thừa kế là một phạm trù pháp luật, nó chỉ xuất hiện, tồn tại trong một xã hội có nhà nước và pháp luật. Pháp luật luôn tôn trọng và bảo đảm quyền tự định đoạt của cá nhân đối với tài sản thuộc sở hữu của họ. Do vậy pháp luật cho phép cá nhân có quyền định đoạt tài sản của mình cho người khác trước khi chết theo di chúc hoặc để lại tại sản cho người khác thừa kế theo pháp luật. Bên cạnh quyền để lại di sản, cá nhân còn có quyền hưởng di sản. Họ có thể hưởng di sản theo di chúc hoặc theo pháp luật. Ngoài ra họ còn có thể từ chối việc hưởng di sản đó. Tuy nhiên trong thực tế không phải lúc nào người thừa kế cũng có quyền hưởng di sản của người chết để lại. Bởi họ đã có những hành vi vi phạm nghiêm trọng đến nghĩa vụ của mình, hoặc có những hành vi trái pháp luật, trái đạo đức,… xâm phạm đến danh sự, uy tín, tính mạng, sức khỏe của người để lại di sản. Những trường hợp như vậy pháp luật gọi là người không được quyền hưởng di sản. Vậy những người không được quyền hưởng di sản gồm những ai? Tại sao họ lại không được quyền hưởng di sản? Có ngoại lệ nào cho trường hợp này hay không? Bài viết này của chúng tôi sẽ giải đáp thắc mắc trên của bạn đọc. Người không được quyền hưởng di sản Những trường hợp không được quyền hưởng di sản Ngoại lệ đối với trường hợp không được quyền hưởng di sản Theo quy định tại Điều 621 Bộ luật dân sự năm 2015 thì người không được quyền hưởng di sản bao gồm cả người thừa kế theo pháp luật và người thừa kế theo di chúc. Họ là những người đáng lẽ được hưởng di sản thừa kế theo pháp luật của người để lại di sản hoặc đã được người lập di chúc cho họ hưởng nhưng những người này lại có hành vi trái pháp luật, trái đạo đức nên bị pháp luật tước đi quyền hưởng di sản. Quy định này của pháp luật nhằm đảm bảo và nâng cao giá trị truyền thống, đạo đức đối với các cá nhân trong xã hội. Qua đó cũng có tác dụng phòng ngừa, răn đe những người có suy nghĩ về hành vi, thái độ không đúng chuẩn mực, vi phạm pháp luật, trái đạo đức xã hội đối với người để lại di sản, những người thừa kế khác nhằm hưởng di sản. Những trường hợp không được quyền hưởng di sản Những người không được quyền hưởng di sản bao gồm những trường hợp sau đây Trường hợp thứ nhất Người thừa kế là người không được quyền hưởng di sản khi bị kết án về hành vi cố ý xâm phạm tính mạng, sức khỏe hoặc về hành vi ngược đãi nghiêm trọng, hành hạ người để lại di sản, xâm phạm nghiêm trọng danh dự, nhân phẩm của người đó Điểm a Khoản 1 Điều 621 Bộ luật dân sự năm 2015. Cơ sở pháp lý để tước đoạt đi quyền hưởng di sản của người thừa kế đó là phải có một bản án hình sự đã có hiệu lực pháp luật kết tội họ về những hành vi trái pháp luật nêu trên. Do vậy nếu như người thừa kế mặc dù có những hành vi như xâm phạm tính mạng, sức khỏe hoặc những hành vi ngược đãi nghiêm trọng, hành hạ, xâm phạm nghiêm trọng danh dự, nhân phẩm của người để lại di sản nhưng không bị kết án thì họ vẫn được hưởng di sản thừa kế. Hoặc họ đã bị kết án những bản án chưa có hiệu lực pháp luật thì cũng chưa có căn cứ pháp lý để tước bỏ quyền được hưởng di sản thừa kế của họ. Bản án của tòa án chỉ được coi là căn cứ để tước đoạt đi quyền hưởng di sản của một người chỉ khi có hiệu lực pháp luật. Bởi lẽ theo quy định pháp luật hình sự hiện hành thì không ai bị coi là có tội khi chưa có bản án kết tội của tòa án đã có hiệu lực pháp luật. Cần chú ý là hành vi xâm phạm tính mạng, sức khỏe của người thừa kế đối với người để lại di sản phải là một hành vi được thực hiện với lỗi cố ý, có thể là cố ý trực tiếp hoặc cố ý gián tiếp. Ngoài ra, hành vi này của họ không cần quan tâm đến mục đích của họ có phải là trục lợi vì mục đích được hưởng di sản hay vì mục đích khác, thì họ vẫn bị tước bỏ quyền hưởng di sản. Sự ngược đãi, hành hạ, xúc phạm đến danh dự nhân phẩm của người để lại di sản là những hành vi đối xử trái pháp luật và vô đạo đức thường được thể hiện thông qua hành động chửi mắng, nhục mạ, bỏ mặc, bỏ đói,… làm cho người để lại di sản đau khổ về mặt tinh thần, danh dự bị xúc phạm, dày vò và đâu đớn về mặt thể xác. Điểm hạn chế của quy định pháp luật dân sự hiện hành là không xác định rõ ràng những hành vi nêu trên như thế nào là nghiêm trọng? Tuy nhiên chỉ cần có hành vi đó và đã bị kết án bằng một bản án có hiệu lực pháp luật là cũng đủ điều kiện để tước bỏ quyền hưởng di sản của người thừa kế. Trường hợp thứ hai Người thừa kế là người không được quyền hưởng di sản khi có vi phạm nghiêm trọng nghĩa vụ nuôi dưỡng người để lại di sản Điểm b Khoản 1 Điều 621 Bộ luật dân sự năm 2015. Truyền thống tốt đẹp trong mỗi gia đình của dân tộc Việt Nam chính là sự giúp đỡ về vật chất, quan tâm chăm sóc về tính thần giữa các thành viên trong gia đình. Người thừa kế bị coi là có hành vi vi phạm nghĩa vụ nuôi dưỡng chính là những người được Luật hôn nhân và gia đình xác định có nghĩa vụ phải nuôi dưỡng người để lại di sản, nhưng họ đã không thực hiện nghĩa vụ đó. Những trường hợp cá nhân có nghĩa vụ nuôi dưỡng theo Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 gồm + Cha, me có nghĩa vụ nuôi dưỡng con chưa thành niên, con đã thành niên mất năng lực hành vi dân sự hoặc không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình Khoản 2 Điều 69 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014. Trường hợp này nếu người thừa kế là cha mẹ của người để lại di sản người chưa thành niên, hoặc đã thành niên mất năng lực hành vi dân sự hoặc không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình mà vi phạm nghĩa vụ nuôi dưỡng thì sẽ không được hưởng di sản. Lưu ý là quy định này áp dụng với cả cha dượng, mẹ kế đối với con của bên kia cùng sống chung với mình Khoản 1 Điều 79 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014. + Con có nghĩa vụ và quyền chăm sóc, nuôi dưỡng cha mẹ, đặc biệt khi cha mẹ mất năng lực hành vi dân sự, ốm đau, già yếu, khuyết tật; trường hợp gia đình có nhiều con thì các con phải cùng nhau chăm sóc, nuôi dưỡng cha mẹ Khoản 2 Điều 71 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014. Do vậy nếu như người thừa kế là con nhưng vi phạm nghĩa vụ nuôi dưỡng cha, mẹ nêu trên thì không được hưởng di sản do cha, mẹ để lại. + Anh, chị, em có nghĩa vụ nuôi dưỡng nhau trong trường hợp không còn cha mẹ hoặc cha mẹ không có điều kiện nuôi dưỡng con Điều 105 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014. Do vậy nếu người thừa kế là anh chị em đối với người để lại di sản nhưng họ đã vi phạm nghĩa vụ nuôi dưỡng nêu trên thì họ không được hưởng di sản. + Ông bà nội, ông bà ngoại có nghĩa vụ nuôi dưỡng cháu trong trường hợp cháu chưa thành niên, cháu đã thành niên mất năng lực hành vi dân sự hoặc không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình mà không có anh, chị, em nuôi dưỡng Khoản 1 Điều 104 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014. Do đó, nếu người để lại di sản là cháu thuộc vào trường hợp nêu trên mà ông bà nội, ông bà ngoại là người thừa kế nhưng đã không thực hiện nghĩa vụ nuôi dưỡng thì họ không có quyền hưởng di sản của cháu. + Cháu đã thành niên có nghĩa vụ nuôi dưỡng trong trường hợp ông bà nội, ông bà ngoại không có con để nuôi dưỡng mình Khoản 2 Điều 104 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014. Ngược lại với trường hợp nêu trên, nếu cháu là người thừa kế nhưng đã vi phạm nghĩa vụ nuôi dưỡng với ông bà nội, ông bà ngoại người để lại di sản của mình thì sẽ bị tước bỏ quyền được hưởng di sản. Trường hợp thứ ba Người thừa kế là người không được quyền hưởng di sản khi bị kết án về hành vi cố ý xâm phạm tính mạng người thừa kế khác nhằm hưởng một phần hoặc toàn bộ phần di sản mà người thừa kế đó có quyền hưởng Điểm c Khoản 1 Điều 621 Bộ luật dân sự năm 2015. Tương tự như trường hợp đầu tiên, người thừa kế trong trường hợp này chỉ bị tước bỏ quyền hưởng di sản trong trường hợp họ có hành vi nêu trên thực hiện với lỗi cố ý và có bản án kết tội đã có hiệu lực pháp luật. Tuy nhiên khác với trường hợp đầu tiên, người thừa kế thực hiện hành vi trái pháp luật bất luận với mục đích gì đều bị tước bỏ quyền hưởng thừa kế, thì trường hợp này điều kiện thứ ba để họ bị tước bỏ quyền hưởng thừa kế chính là mục đích của họ khi thực hiện hành vi trái pháp luật, phải nhằm hưởng một phần hoặc toàn bộ phần di sản mà người thừa kế đó có quyền hưởng. Do vậy, nếu như người thừa kế thực hiện hành vi nêu trên với lỗi cố ý, đã bị kết tội bằng một bản án có hiệu lực pháp luật nhưng lại nhằm mục đích khác với mục đích đã nêu trong điều luật thì họ cũng sẽ không bị tước bỏ quyền hưởng di sản thừa kế. Trường hợp thứ tư Người thừa kế là người không được quyền hưởng di sản khi có hành vi lừa dối, cưỡng ép hoặc ngăn cản người để lại di sản trong việc lập di chúc; giả mạo di chúc, sửa chữa di chúc, hủy di chúc, che giấu di chúc nhằm hưởng một phần hoặc toàn bộ di sản trái với ý chí của người để lại di sản Điểm d Khoản 1 Điều 621 Bộ luật dân sự năm 2015. Đối với trường hơp thứ tư này chúng tôi có thể phân tích các hành vi nêu trên của người thừa kế như sau Hành vi lừa dối người để lại di sản trong trường hợp này chính là việc cung cấp thông tin sai sự thật làm cho người để lại di sản tin vào thông tin đó và lập một di chúc trái với ý chí đích thực của mình. Hành vi cưỡng ép người để lại di sản trong việc lập di chúc chính là hành vi tác động đến tâm lý, tinh thần của người để lại si sản trái với ý nguyện đích thực của họ. Tiếp theo hành vi giả mạo di chúc là việc xác lập một bản di chúc giả cả nội dung lẫn hình thức nhằm làm cho người khác tin rằng đó là di chúc cho người chết để lại. Giả mạo di chúc nhằm hướng tới sự có lợi cho một hoặc một số người nhất định trong việc hưởng di sản mà việc hưởng lợi này hoàn toàn trái với ý chí của người đã chết. Hành vi sửa chữa di chúc là việc thay đổi một phần hoặc toàn bộ nội dung di chúc mà người để lại di sản đã lập nhằm hưởng một phần hoặc toàn bộ di sản trái với ý chí của người để lại di sản. Hành vi cuối cùng là hủy di chúc, che giấu di chúc nhằm hưởng một phần hoặc toàn bộ di sản trái với ý chí của người để lại di sản. Hành vi này thông thường chỉ xuất hiện trong trường hợp người có hành vi nêu trên là người được thừa kế theo pháp luật nhưng theo nội dung di chúc do người để lại di sản đã lập lại không có tên của họ hoặc có nhưng phần di sản họ nhận ít hơn so với phần di sản mà họ được nhận nếu được chia theo pháp luật. Do đó, họ thực hiện hành vi hủy di chúc hoặc che giấu di chúc để di sản được chia theo pháp luật. Các hành vi nêu trên đều là những hành vi xâm phạm đến ý chí đích thực của người lập di chúc và xâm phạm đến quyền, lợi ích hợp pháp của những người thừa kế khác. Vì vậy họ thuộc vào trường hợp người không được quyền hưởng di sản theo quy định của Bộ luật dân sự hiện hành. Ngoại lệ đối với trường hợp không được quyền hưởng di sản Khi những người thừa kế thuộc vào trường hợp người không được quyền hưởng di sản như đã phân tích nêu trên thông thường họ sẽ bị tước bỏ quyền hưởng di sản của mình. Tuy nhiên, khi xác định việc tước bỏ quyền này của họ trong các trường hợp nói trên cần phải tôn trọng quyền định đoạt của người lập di chúc. Theo quy định tại Khoản 1 Điều 621 Bộ luật dân sự năm 2015 thì những người thừa kế nói trên vẫn được hưởng di sản nếu người để lại di sản đã biết hành vi của người đó, nhưng vẫn cho họ hưởng di sản theo di chúc. Đây chính là ngoại lệ đối với trường hợp người không được quyền hưởng di sản. Tuy nhiên cần chú ý đến thời điểm lập di chúc với thời điểm những người thừa kế có hành vi trái pháp luật nêu trên để xác định xem người thừa kế đó có bị tước bỏ quyền hưởng di sản hay không. Bạn đang theo dõi bài viết được biên tập trên trang web của Nếu có thắc mắc hay cần hỗ trợ tư vấn pháp luật từ các Luật sư, chuyên gia pháp lý vui lòng liên hệ với chúng tôi qua Hotline để được hỗ trợ hiệu quả và tối ưu nhất. Trân trọng./. Ths. Bùi Quang Hưng Người không được quyền hưởng di sản quy định tại Điều 643 BLDS2005 bao gồm cả người thừa kế theo pháp luật, cả người thừa kế theo di không được quyền hưởng di sản quy định tại Điều 643 BLDS2005 bao gồm cả người thừa kế theo pháp luật, cả người thừa kế theo di chúc. Đó là những người đáng lẽ được hưởng di sản vì theo quy định của pháp luật thì họ là người thừa kế của người để lại di sản hoặc đã được người lập di chúc cho họ hưởng nhưng những người này lại có hành vi trái pháp luật, trái đạo đức nên bị pháp luật tước đi quyền hưởng di sản theo luật cũng như theo di chúc. 1. Căn cứ xác định người không có quyền hưởng di sản Để xác định người không có quyền hưởng di sản, pháp luật Việt Nam hiện hành đã có những quy định về vấn đề này. Cụ thể tại Điều 643 BLDS. Đây là quy định nêu ra những trường hợp không được quyền hưởng di sản. Các nhà làm luật đã dựa vào một số căn cứ sau để đưa ra quy định về các trường hợp đó – Hiện nay, các quan hệ về thừa kế nói chung và các quan hệ về người không được hưởng di sản nói riêng ngày càng đa dạng. Để đảm bảo nguyên tắc pháp chế xã hội chủ nghĩa cũng như việc thống nhất quản lí bằng pháp luật, Nhà nước ta đã ra quy định về vấn đề người không được quyền hưởng di sản. – Việc quy định về vấn đề này còn dựa trên những quan niệm đạo đức, phong tục tập quán ở nước ta. Thừa kế là một quan hệ mang tính đạo đức và phong tục tập đây khi chưa có pháp luật thì đạo đức và phong tục tập quán làm luôn cả nhiệm vụ của pháp luật trong việc giải quyết các vấn đề trong đời sống xã hội theo ý muốn chủ quan, theo phong tục tập quán nơi họ sinh sống và theo những gì mà họ cho là đúng. Pháp luật và đạo đức, phong tục tập quán có mối quan hệ qua lại vô cùng chặt chẽ. Pháp luật được xây dựng dựa trên đạo đức và những phong tục tập quán tốt đẹp. Theo đó, khi những người lẽ ra được hưởng thừa kế nhưng lại có hành vi bất xứng thì việc họ không được quyền hưởng thừa kế là một việc phù hợp với đạo đức và phong tục tập quán của chính chúng ta. 2. Người bị truất quyền hưởng di sản Truất quyền thừa kế là việc người để lại thừa kế không cho người thừa kế hưởng di sản của mình. Đây là một trong những quyền của người lập di chúc được quy định tại Điều 648 BLDS. Theo đó, những người bị truất quyền chỉ là những người thừa kế theo pháp luật. Một người thừa kế theo pháp luật bị truất quyền hưởng di sản nếu trong di chúc, người lập di chúc nói rõ là truất quyền hưởng di sản của họ. Và đương nhiên khi đó, người thừa kế đã bị truất quyền hưởng di sản sẽ mất tư cách người thừa kế mà họ có được do luật định. Cần phân biệt người bị truất quyền hưởng di sản với người không được chỉ định trong di chúc. Cả hai trường hợp trên đều là người không được người để lại di chúc cho hưởng di sản. Tuy nhiên người không được người để lại di chúc cho hưởng di sản có thể không phải người bị truất quyền còn người bị truất quyền là người không được người để lại di chúc cho hưởng di sản. Thông thường, người lập di chúc sẽ chỉ định cho cá nhân, tổ chức hay Nhà nước là người hưởng di sản và cũng có quyền truất quyền hưởng di sản của những người thừa kế theo pháp luật mà không phải nêu lí do truất. Việc truất quyền thừa kế này phải được ghi rõ trong di chúc là truất quyền thừa kế của ai hay không cho ai hưởng di sản. Bên cạnh đó, đối với những người thừa kế không phụ thuộc vào nội dung của di chúc quy định cụ thể tại Điều 669 BLDS vẫn được quyền hưởng di sản thừa kế bằng hai phần ba của một suất thừa kế theo luật cho dù đã bị người lập di chúc truất quyền hưởng di sản. Họ chỉ không được hưởng di sản nếu từ chối nhận di sản hoặc rơi vào một trong các trường hợp quy định tại Khoản 1 Điều 643 BLDS. 3. Người bị tước quyền hưởng di sản Khoản 1 Điều 643 BLDS quy định những trường hợp không được quyền hưởng di sản. Đó chính là những trường hợp bị tước quyền thừa kế do có hành vi trái pháp luật, xâm phạm đến tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm… của người để lại di sản và những người thừa kế khác, có những hành động không xứng đáng với bổn phận của mình. Việc tước quyền hưởng di sản này hoàn toàn phụ thuộc vào ý chí nhà nước. Theo quy định của pháp luật thì những người này không được quyền hưởng di sản. Những người này đáng lẽ được hưởng di sản vì theo quy định họ là người thừa kế của người để lại di sản vì họ thuộc diện và hàng thừa kế theo pháp luật của người để lại di sản hoặc đã được người để lại di sản lập di chúc cho họ hưởng thừa kế. Đó là những trường hợp >>> Luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài Tuy nhiên, nhằm đảm bảo nguyên tắc tôn trọng sự tự do ý chí của các bên trong thừa kế và nhằm tôn trọng ý chí của người để lại di sản nên những người nói trên vẫn được hưởng di sản theo Khoản 2 Điều 643 BLDS “…nếu người để lại di sản biết hành vi của những người đó nhưng vẫn cho họ hưởng di sản theo di chúc”. Đối với những người không được quyền hưởng di sản theo quy định của “Bộ luật dân sự 2015” họ chỉ đương nhiên không được quyền hưởng di sản khi được chia theo pháp luật. Và khi xác định suất thừa kế theo pháp luật để tính kỷ phần cho những người được thừa kế không phụ thuộc vào nội dung của di chúc theo quy định tại Điều 669 BLDS, họ không là tham số trong số chia để tình nhân suất. Tóm lại, người không được quyền hưởng di sản theo nghĩa rộng bao gồm cả người bị truất quyền hưởng di sản và người bị tước quyền hưởng di sản theo quy định tại Khoản 1 Điều 643 BLDS trừ trường hợp quy định tại Điều 669.

người không được quyền hưởng di sản